Cải cách kinh tế ở Trung Quốc và đổi mới kinh tế của nước ta có những điểm rất trùng hợp và những điểm rất khác biệt. Một trong những điểm khác biệt rõ rệt nhất là chính sách tỷ giá.
Trong suốt hai thập niên phát triển kinh tế, Trung Quốc kiên trì theo đuổi mục tiêu đồng nhân dân tệ rẻ và nhờ đó trở thành một quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới, có cán cân thương mại thặng dư liên tục trong nhiều năm, tích lũy được một dự trữ ngoại tệ kỷ lục lên đến gần 2.000 tỉ USD.
Ngược lại, chúng ta thường xuyên cố gắng kềm giữ tỷ giá cao tương đối của đồng bạc Việt Nam so với đồng đôla Mỹ và các loại ngoại tệ mạnh khác, và suốt trong thời gian hơn 20 năm kể từ khi mở cửa buôn bán với thế giới đến nay, dù cho mục tiêu được đề ra của chúng ta là đẩy mạnh xuất khẩu, Việt Nam luôn luôn có cán cân thương mại khiếm hụt, với mức nhập siêu có lúc lên đến 18 tỉ USD/năm, kết quả là dự trữ ngoại tệ quốc gia của chúng ta hiện nay chỉ bằng 1% của Trung Quốc.

Ảnh minh họa
Chính sách tỷ giá có thể chỉ là một trong nhiều lý do đưa đến tình trạng khiếm hụt cán cân thương mại kinh niên của nước ta, nhưng nó lại là một tác nhân quan trọng, có tính chất rất quyết định. Tỷ giá đồng bạc cao khiến cho hàng nhập khẩu lúc nào cũng có vẻ rẻ hơn và thị trường nội địa tràn ngập hàng ngoại, kể cả những mặt hàng mà chúng ta có lợi thế so sánh như nông sản, thủy hải sản.
Chúng ta có thể tự hào là một trong những quốc gia hàng đầu xuất khẩu gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, nhưng mặc dù xuất khẩu đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá ngoạn mục trong những năm qua, nhập khẩu vẫn luôn luôn chiếm thượng phong. Khiếm hụt cán cân thương mại kéo dài buộc quốc gia phải vay nợ để bù đắp.
Xét về mặt thanh khoản, hiện nay chúng ta có thể yên tâm rằng chúng ta đang có những nguồn cung ngoại tệ khá dồi dào từ kiều hối, từ các khoản vay ODA và các khoản tín dụng doanh nghiệp khác, từ việc phát hành trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ, từ nguồn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) và gián tiếp (FII).
Tuy nhiên, ngoại trừ kiều hối, các nguồn cung ngoại tệ còn lại đều là các khoản nợ phải trả sau này. Nếu các khoản nợ này ngày càng phình to và chiếm một tỷ lệ cao trên GDP của nước ta, nó sẽ trở thành một vấn đề nghiêm trọng và là một rào cản khó vượt đối với những nỗ lực tái cấu trúc kinh tế, phục hồi các cân đối vĩ mô thiết yếu cho nền kinh tế trong tiến trình tăng trưởng đến mức tự duy, như cân đối cán cân thương mại, cân đối ngân sách, ổn định tiền tệ và giá cả và thăng bằng toàn dụng.
Như nhận định của một nhà lãnh đạo tiền tệ, sự phá giá đồng nội tệ, dù là một hành động cần thiết để lành mạnh hóa cán cân thương mại và thúc đẩy đầu tư trong và ngoài nước trong tương lai, có thể sẽ mang đến những hậu quả tài chính không mong muốn trong trường hợp nợ ngoại tệ của quốc gia tăng nhanh và chiếm một tỷ lệ lớn trên GDP. Nó có thể dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp đang mắc nợ ngân hàng bằng ngoại tệ. Đây hiển nhiên là một vòng lẩn quẩn nguy hiểm của một chính sách tỷ giá bất hợp lý kéo dài.
Tỷ giá nội tệ cao trong một thời gian dài dẫn đến khiếm hụt cân thương mại và nhập siêu ngày càng lớn, nhập siêu càng lớn khiến nợ nước ngoài ngày càng tăng để bù đắp thiếu hụt, nợ nước ngoài nhiều khiến chúng ta buộc phải miễn cưỡng duy trì một tỷ giá nội tệ cao nhằm làm giảm áp lực tài chính đối với Nhà nước và doanh nghiệp trong việc hoàn trả nợ và lãi... Do đó, chính sách tỷ giá của chúng ta trong nhiều năm không còn chủ động mà chỉ mang tính tình thế, đuổi theo tỷ giá trên thị trường tự do và vì thế không có những tác động tích cực và hiệu quả đối với cán cân thương mại và củng cố, tăng cường khối dự trữ ngoại hối quốc gia.
Động thái gần đây của Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm tỷ giá đồng bạc Việt Nam so với đồng USD liệu có thể được xem là một tín hiệu tích cực, thể hiện quyết tâm hành động của chính phủ trong nỗ lực phối hợp các biện pháp tái cấu trúc nền kinh tế, thực hiện các cân đối vĩ mô quan trọng như quân bình cán cân thương mại, giảm bớt khiếm hụt và tiến đến cân bằng ngân sách, ổn định tiền tệ, giá cả để đạt mục tiêu thăng bằng toàn dụng?
Điều có thể thấy rõ là sự giảm giá đồng bạc Việt Nam đang kéo theo nó sự tăng giá các mặt hàng năng lượng thiết yếu (xăng dầu, điện, nước) trên thị trường nội địa vào những ngày đầu năm 2010. Mặc dù người đại diện cho cơ quan điều hành chính sách tài khóa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh khẳng định rằng có cơ sở để tin chúng ta sẽ thực hiện được mục tiêu giữ chỉ số tăng giá tiêu dùng năm 2010 không quá 7% như chỉ tiêu Quốc hội đã phê duyệt, các nhà phân tích kinh tế, các định chế tài chính tiền tệ tài chính thế giới không tin là lạm phát năm nay có thể kềm chế ở mức 7% khi chỉ trong hai tháng đầu năm, lạm phát đã vượt 3%, chưa tính đến yếu tố giá xăng dầu tăng 3% vào cuối tháng 2 và giá điện sẽ tăng 6,8% vào đầu tháng 3.
Ngân hàng HSBC cho rằng, áp lực lạm phát sẽ trở thành vấn đề ngày một lớn khi giá xăng dầu và thực phẩm tăng cao, đồng thời dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2010 sẽ là 8%. Còn theo Ngân hàng Standard Chartered, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm nay sẽ vào khoảng 10%. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc phụ trách chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Việt Nam cũng cho rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 7% là không thể thực hiện được và mức trên dưới 10% sẽ là khả dĩ hơn đối với kinh tế Việt Nam năm nay.
Tuy nhiên, theo ông, mục tiêu này cũng không dễ thực hiện nếu diễn biến của thị trường thế giới không thuận chiều và Chính phủ không đưa ra được những chính sách tài khóa hợp lý. Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng nhận định rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2010 sẽ đạt 6% nhưng lạm phát có thể lên hai con số do tăng trưởng tín dụng mạnh, đồng thời giá hàng hóa thế giới cao trở lại cũng sẽ tác động đến giá cả trong nước.
Tuy nhiên, như đã nói, sự điều chỉnh tích cực tỷ giá đồng Việt Nam vào đầu năm và những hệ quả tất yếu của nó cho thấy nền kinh tế của nước ta trong năm 2010 sẽ không tránh khỏi lạm phát, chưa kể những yếu tố tăng giá ngoại lai do biến động trên thị trường thế giới. Nhưng lạm phát năm 2010 dù có thể ở mức hai con số cũng không phải là điều đáng lo ngại nhất mà điều đáng lo hơn là liệu với tất cả những điều chỉnh từ chính sách kinh tế vĩ mô và cơ chế thị trường như trên, chúng ta đã có điều kiện đủ để đưa nền kinh tế đến một mặt bằng giá mới và ổn định hay chưa?
Chúng ta không thể cứ tiếp tục tạo ra áp lực lạm phát bằng sự mất cân đối trong chính sách tài khóa và những điều chỉnh tăng giá cả, tiền lương, tỷ giá, lãi suất rồi lại chống lạm phát bằng cách siết chặt chính sách tiền tệ và tín dụng, một sự siết chặt có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đối với khu vực kinh tế tư doanh, một nguồn lực mạnh mẽ, quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Như nhận xét của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (ĐH Kinh tế, ĐHQG Hà Nội), cái giá mà nền kinh tế phải trả để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát là rất đắt. Vì vậy, điều chúng ta mong đợi là sau những điều chỉnh nói trên, những điều chỉnh được trông đợi là mang tính chất cơ cấu hơn là tình thế, nhằm tiến đến một hệ thống giá cả thị trường hoàn chỉnh, chấm dứt cơ chế giá bao cấp, nền kinh tế sẽ có một mặt bằng giá mới, tuy cao hơn nhưng sẽ có xu hướng ổn định hơn.
Từ đó, các nhà lãnh đạo kinh tế và tiền tệ sẽ quyết tâm tạo lập những cân đối vĩ mô đúng đắn, giúp cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn (ICOR thấp hơn), có tính cạnh tranh hơn (phí thấp hơn) và ổn định hơn (lạm phát được kiểm soát một cách lâu dài).
Liệu rằng đó có phải là một kịch bản đẹp cho nền kinh tế Việt Nam trên tiến trình phát triển: đạt đến một mặt bằng giá mới theo cơ chế thị trường, phát huy hiệu quả và năng suất lao động, phát huy năng lực cạnh tranh và lợi thế so sánh của nền kinh tế và hướng tới ổn định lâu dài, trong đó, Chính phủ tuân thủ một kỷ luật tài khóa nghiêm nhặt, giảm bớt chi phí của bộ máy hành chính đồng thời tăng năng suất của nó, xây dựng một nền kinh tế có chi phí thấp và hiệu quả cạnh tranh cao? Nguồn:
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần Số lượt đọc:
183
-
Cập nhật lần cuối:
17/03/2010 03:06:27 PM |