Một mối lo trên bàn nghị sự của uỷ ban Thường vụ Quốc hội là tình trạng lãng phí, thất thoát về giá trị đất đai, tài sản trong tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Sự thất thoát đó có thể lớn hơn nữa, bởi còn tới hàng trăm doanh nghiệp lớn của Nhà nước nắm giữ hơn 400 ngàn tỉ đồng giá trị vốn, tài sản chưa cổ phần hoá.
Hôm qua (21.8), báo cáo của đoàn giám sát do chủ nhiệm uỷ ban Tài chính – ngân sách của Quốc hội, ông Phùng Quốc Hiển trình bày, cho thấy, với việc chọn hình thức thuê đất, giá trị tài sản của Nhà nước lại gây thất thoát lớn do thực tế, giá thuê đất luôn được xác định rất rẻ so với giá thị trường. Chưa có tổ chức nào khảo sát, đánh giá xem mức độ thất thoát này trong những năm qua. Nhưng chỉ qua một số trường hợp cụ thể, người ta cũng thấy, giá trị thất thoát đó là rất lớn. Ví dụ một công ty cổ phần ở Lâm Đồng kinh doanh khách sạn tại một vị trí đắc địa với diện tích thuê lên tới 2.290m2, nhưng khi định giá để cổ phần hoá chỉ xác định là 3,5 tỉ đồng. Sau cổ phần hoá, cổ phần của Nhà nước tuy chiếm có 30% nhưng lại tiếp tục được bán hết. Và có nhiều trường hợp như vậy trong lĩnh vực khách sạn tại Hà Nội, TP.HCM…
Thực trạng thất thoát tài sản nhà nước sau cổ phần hóa
Sự vênh nhau giữa các văn bản về xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước cũng cho thấy những lãng phí, mất mát có thể có lớn mức nào. Ví dụ, công ty TNHH một thành viên bến xe Miền Đông nếu xác định giá trị theo nghị định 187/2004/NĐ-CP chỉ là 60 tỉ đồng và lợi thế giá trị kinh doanh là 9 tỉ đồng. Nhưng đến nghị định 109/2007/NĐ–CP thì giá trị doanh nghiệp này lại được xác định là 1.121 tỉ đồng và lợi thế kinh doanh là 1.052 tỉ đồng, gấp tới 31,4 lần giá trị ban đầu. Hay công ty đóng tàu An Phú theo nghị định 187/CP có giá trị 139 tỉ đồng và lợi thế kinh doanh bằng 0 thì theo nghị định 109/NĐ–CP, giá trị doanh nghiệp là 159 tỉ đồng và lợi thế kinh doanh cũng bằng 159 tỉ đồng.
Đó là chưa kể đến khả năng thất thoát về vốn, như tình trạng “pha loãng” vốn nhà nước bằng các hình thức tăng vốn điều lệ, bán cổ phần nhà nước… Việc bán cổ phần, tài sản ở các tập đoàn, tổng công ty rất lớn (ví dụ tập đoàn Điện lực bán tài sản, cổ phần đã được trên 7.000 tỉ đồng) nhưng số thu về ngân sách rất ít. Theo quy định, sau khi xử lý các vấn đề tài chính thì số tiền này được các tập đoàn, tổng công ty đầu tư vào doanh nghiệp thành viên. Số cổ tức thu được, được coi là thu nhập về kinh doanh tài chính của tập đoàn, chỉ phải nộp 28% thuế thu nhập doanh nghiệp, trong khi, nguồn vốn này, theo uỷ ban Tài chính – ngân sách của Quốc hội, đáng phải coi là khoản đầu tư của Nhà nước, phải nộp vào ngân sách. “Số vốn để lại quá lớn so với yêu cầu sẽ dẫn đến tình trạng sử dụng vốn không hiệu quả”, báo cáo giám sát của uỷ ban Tài chính – ngân sách kết luận.
Ngoài ra, thất thoát về giá trị thương hiệu cũng là vấn đề lớn. Hiện nay có một số doanh nghiệp định giá được thương hiệu như Vinaconex được xác định có giá trị thương hiệu 100 tỉ đồng, nhưng nhiều thương hiệu như “Sông Đà” của tổng công ty Sông Đà, “Satra” của tổng công ty thương mại Sài Gòn, Vissan… đều chưa được tính.
Làm gì để tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp khi cổ phần hoá không tiếp tục thất thoát?
Làm gì để tài sản, đất đai, vốn... của Nhà nước tại doanh nghiệp khi cổ phần hoá không tiếp tục bị thất thoát trong những năm tới, khi quá trình cổ phần hoá còn phải đẩy mạnh hơn, nhất là với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước (hiện nay, số doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá mới chiếm 16% tổng giá trị vốn nhà nước là 490.000 tỉ đồng)?
Theo ý kiến của các thành viên uỷ ban Thường vụ Quốc hội, phải định giá trị tài sản Nhà nước theo giá thị trường, có thể bằng cách đấu giá công khai. Đồng thời phải tính đúng, tính đủ giá trị các yếu tố về thương hiệu, lợi thế về vị trí, tiềm lực kinh doanh… Những quy định về xác định giá trị doanh nghiệp cũng phải được xây dựng chặt chẽ hơn và với hình thức pháp lý cao là luật do Quốc hội thông qua. Số lượt đọc:
141
-
Cập nhật lần cuối:
18/11/2008 06:53:14 PM |