Ngày nay, tuy không can thiệp trực tiếp vào thị trường, nhưng các công cụ quản lý vĩ mô của Chính phủ (bàn tay hữu hình) là rất quan trọng khi nền kinh tế gặp khó khăn, như thực tiễn đã chứng minh.
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đang bộc lộ những tín hiệu và động thái chưa từng có, đánh dấu bước ngoặt xuống dốc thời kỳ hoàng kim chủ nghĩa tư bản tự do Mỹ.
Các chính phủ ra tay
Nếu như sự lạm dụng cho vay dưới chuẩn, được sự dung túng của Chính phủ Mỹ và sự bùng nổ các công cụ nợ phái sinh trên thị trường tài chính toàn cầu gây ra tình trạng đầu cơ quá mức và mất khả năng thanh toán trên thị trường bất động sản là căn nguyên trực tiếp, thì chính các thể chế thị trường tự do cao độ, thiên vị các lợi ích cá nhân và cục bộ, nới lỏng kiểm soát ở Mỹ mới là căn nguyên sâu xa và chủ yếu gây ra khủng hoảng. Giờ đây, Chính phủ Mỹ phải tung nhiều gói cứu trợ trị giá hàng trăm tỷ USD hòng cứu vãn ngành NH, công nghiệp ô tô…đang bên bờ vực phá sản.
Theo gương Mỹ, liệu pháp “bàn tay nhà nước” lan rộng nhanh chóng trong một loạt các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Theo đó, ngày 28/9/2008, Chính phủ Anh đã quốc hữu hóa NH Bradford & Bingley tốn kém 25 tỷ USD. Ngày 29/9/2008, các nước Bỉ, Hà Lan và Luxembourg đã phải cùng nhau quốc hữu hóa bộ phận tài chính của Tập đoàn Fortis - NH lớn nhất nước Bỉ. Ngày 6/10/2008, NH BNP Paribas của Pháp đã chính thức tiếp nhận kiểm soát cổ phần của Fortis ở Bỉ và Luxembourg. Bà Merkel, Thủ tướng Đức đã tuyên bố, nước Đức sẽ không để cho một công ty tài chính nào bị lụn bại, vì sẽ gây ảnh hưởng xấu cho toàn hệ thống. Bởi vậy, Chính phủ Đức và Bundesbank đã phải bỏ ra 50 tỷ Euro để cứu nguy cho Hypo Real Estate - một tổ chức cho vay thương mại lớn thứ hai ở Đức chuyên cho vay trong lĩnh vực bất động sản, khỏi bị phá sản.
Chính phủ lceland cũng đã chi 600 triệu Euro để kiểm soát cổ phần của Glitnir Banh của nước này để tránh sự phá sản dây chuyền. Nhật Bản cũng sẵn sàng chi hàng trăm tỷ USD để hỗ trợ ổn định hệ thống thị trường tài chính trong nước...
Các tổ chức IMF hay WB trước đây thường đóng vai trò trung tâm trong cuộc giải quyết khủng hoảng tài chính ở châu Á,thì nay cũng không còn có được vai trò như thế đối với khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia phát triển trên thế giới ngày càng tìm thấy tiếng nói chung, cùng nhấn mạnh giải pháp căn bản cho cuộc khủng hoảng hiện nay là phải "tìm ra được một sự cân bằng mới giữa vai trò của nhà nước và thị trường”. Tư duy mới về bàn tay của nhà nước trong một thế giới đang biến đổi ngày càng đậm nét dần.
Thị trường tự do hoàn hảo?
Học thuyết kinh tế "Bàn tay vô hình" được Adam Smith - nhà kinh tế học người Scotland đưa ra trong những năm của thế kỷ XVIII. Theo Adam Smith thì "Bàn tay vô hình” có nghĩa là trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia luôn tìm cách tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vô hình chung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng. Hệ quả của tư tưởng này là chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân, DN và nền kinh tế cứ để tự do hoạt động kinh doanh.
Không đồng nhất với quan điểm trên, nhà kinh tế học người Anh, John Maynard Keynes (1883 - 1948) - là một trong 100 người được Tạp chí TIME bầu chọn là những người làm nên thế kỷ XX – đã nêu lên học thuyết mới về lý thuyết tổng cầu – nguyên lý cầu hữu hiệu. Keynes cho rằng vào thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu của chính phủ) thì sản xuất và việc làm cũng tăng theo, nhờ đó giúp cho nền kinh tế thoát khỏi thời kỳ suy thoái. Thắt chặt chi tiêu trong thời kỳ khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng. Qua đó, ông đề cao vai trò của chính phủ trong việc kích cầu trong thời kỳ suy thoái.
"Bàn tay hữu hình" hay…
Sáu tháng cuối năm vừa qua, tuy chưa phải là thời gian dài nhưng rõ ràng cũng đủ cho chúng ta suy ngẫm lại về bài học kinh nghiệm sử dụng sức mạnh điều tiết thị trường của nhà nước. Từ đầu năm 2008 đến nay, Chính phủ đã thực thi các giải pháp mạnh như đã kể trên. Như thế là chúng ta đã chủ động điều tiết "bàn tay vô hình" của thị trường tự do buộc phải "tuân theo định hướng chủ quan" của mình, vì thế một số mặt hàng thiết yếu, nhạy cảm cho đầu vào sản xuất và cả tiêu dùng như xăng dầu, điện, nước, phân bón... trong năm vừa qua về cơ bản vẫn được giữ nguyên, không tăng hoặc có tăng cũng chỉ ở giá cả của các sản phẩm này trên thị trường thế giới đều đã tăng cao hơn nhiều. Điều này đã có tác động tích cực là bảo đảm cho các DN duy trì hoạt động bình thường và không gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân, góp phần ổn định an sinh xã hội như mục tiêu của Chính phủ đã đề ra; ngoài ra cũng góp phần kiềm chế được một phần sự gia tăng của CPI, của lạm phát.
Tuy nhiên, từ kinh nghiệm của thế giới và kể cả Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, nhất là bằng kinh nghiệm từng trải của chúng ta về chống lạm phát thành công trong những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đã cho thấy, cũng cần hết sức lưu ý rằng, mọi sự điều tiết của "bàn tay hữu hình" đó dù có hiệu quả cao đến đâu cũng chỉ là giải pháp tình thế có tính thời đoạn nhất định. Không thể coi đó là giải pháp bất biến, vì nếu cứ kéo dài mãi sẽ là chủ quan duy ý chí, phá vỡ các quy luật khách quan khoa học vốn có của kinh tế thị trường cùng với thực tiễn yêu cầu phát triển sinh động của kinh tế - xã hội nước ta.
Nền kinh tế mới của thế giới đang định hình, đòi hỏi tư duy thích ứng về bàn tay quản lý của Nhà nước trong khi thực hiện các nguyên tắc kinh tế thị trường, tránh các cực đoan, phiến diện trong nhận thức, tăng cường sự phối hợp đồng bộ các công cụ và cấp độ quản lý, giám sát chặt chẽ và chủ động xử trí kịp thời các tác động mặt trái của chính sách lựa chọn trong thực tiễn bằng hợp lực của sức mạnh tổ chức và tài chính trong và ngoài nước, với vai trò trung tâm là Nhà nước. Do vậy, sự linh hoạt của Nhà nước trong điều hành kinh tế (hai bàn tay - cả vô hình và hữu hình) mới là yếu tố quan trọng của một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa.
* GS. Đặng Phong – Chuyên gia lịch sử kinh tế Việt Nam: Một thời gian theo sách của Liên Xô (cũ), nhưng sau khi Liên Xô sụp đổ, ta lại thay đổi chính sách kinh tế. Những năm 1992 – 1993, chúng ta đã ứng dụng tư duy kinh tế của người Nhật, nhưng tư duy đó cũng không hẳn phù hợp. Do vậy, có thể nói rằng, người Việt Nam vẫn chưa hình thành rõ một hệ thống tư duy kinh tế. Điều đó chẳng có gì đáng trách cả. Vì để hình thành rõ một hệ thống tư duy kinh tế thì phải có những nhà kinh tế học thực thụ, có thể đưa ra những lý thuyết cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Một học thuyết như thế rõ ràng là chưa có. Cách của người Việt Nam là cứ đi sẽ thấy đường.
* Ông Vũ Quốc Tuấn – Chuyên gia kinh tế: Thế giới đang bước vào thời đại kinh tế mới, kinh tế thị trường phải có sự điều tiết thích hợp của Nhà nước. Trong đó, sẽ yêu cầu cao hơn về tăng cường vai trò của luật pháp, chế tài, điều tiết của Nhà nước, kiểm soát các thể chế thị trường, thắt chặt cho vay tín dụng, thiết lập hệ thống thông tin công khai, minh bạch…Tư duy mới về bàn tay Nhà nước đang và sẽ ngày càng trở nên rõ nét, bao quát và chi phối toàn bộ các hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội quốc gia và quốc tế.
* TS. Lê Đăng Doanh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương: Có 2 mô hình về việc phát triển kinh tế thị trường, mô hình kiểu Mỹ và kiểu Trung Quốc. Triết lý của kinh tế thị trường là để cho mọi người tự do quyết định, tự do hoạt động kinh doanh theo pháp luật, nhưng mà các đòn bẩy kinh tế nó ràng buộc người ta ghê lắm. Cho nên, trong kinh tế hiện đại, sự đối nghịch chủ thợ cũng bị đòn bẩy kinh tế ràng buộc. Thợ thì nghe chủ là đương nhiên, nhưng chủ ngày nay cũng phải lắng nghe thợ, vì thợ trong một chừng mực nào đó chính là “sức cầu” thị trường. Phải nghe theo tiếng “thở” của thị trường.
* TS. Nguyễn Đức Thành – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (ĐHQG Hà Nội): Những tư tưởng kinh tế nằm sau các chính sách kinh tế ở Việt Nam kể từ giai đoạn đổi mới đến nay, mặc dù không có trường phái nào rõ rệt, nhưng dường như có một dạng chủ nghĩa Keynes thô sơ phủ bóng lên các chính sách kinh tế của Việt Nam trong suốt thời gian qua. Sự vận hành nền kinh tế Việt Nam hiện nay mang nét tương đồng với lý luận tổng cầu của Keynes và có xu hướng nghiêng về trọng kích cầu hơn.
* TS. Nguyễn Quang A – Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển (IDS): Việc thắt chặt chính sách tiền tệ của Việt Nam trong thời gian vừa qua, giảm bớt thâm hụt cán cân thương mại, kiểm soát lạm phát…cho thấy, chỉ có Chính phủ mới có những chính sách kiểm soát tầm vĩ mô như vậy. Vai trò của bàn tay nhà nước là rõ rồi, không phải bàn cãi, nhất là những nỗ lực trong thắt chặt chính sách tài khóa, tức là chi tiêu công của Chính phủ, chi tiêu của các DNNN. Tôi nghĩ, nếu làm tốt được điều này và vài điểm khác, như trợ giúp người nghèo, giúp đỡ các DNNVV để họ có thể vực dậy thì có thể Việt Nam có cơ hội phục hồi lại nhanh chóng.
Nguồn:
Thời báo doanh nhân Số lượt đọc:
3143
-
Cập nhật lần cuối:
17/01/2009 08:50:26 AM |