Ngày nay Chứng khoán đã trở thành môt kênh huy động vốn có thể cạnh tranh ngang ngửa với ngân hàng .Cuốn sách này giới thiệu với độc giả những kiến thức cơ bản nhất về Thị trường chứng khoán, giúp người đọc có cái nhìn tổng quan nhất về thị trường chứng khoán.
Lời tựa
Khi độc giả cầm cuốn sách này trong tay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi qua được một chặng đường gần bảy năm. Từ năm ngoái, giống như đứa trẻ bắt đầu vào tiểu học, thị trường đã lớn rất nhanh cả về hình dáng bề ngoài lẫn tố chất bên trong. Bây giờ , thị trường niêm yết chính thức đã có 107 loại cổ phiếu với tổng giá trị niêm yết đến ngày 2 – 4- 2007 là 16.842 tỉ đồng; tổng vốn hóa thị trường 243.534 tỉ đồng. Nếu tính cả 376 trái phiếu các loại và hai chứng chỉ quỹ, tổng mức vốn hóa thị trường lên đến 303.574 tỉ đồng. Cộng thêm quy mô của Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội và thị trường OTC ( cổ phiếu chưa niêm yết) , thì tổng mức vốn hóa thị trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam đã vào khoảng 40 % GDP – một tốc độ phát triển vũ bão trong thời gian ngắn mà ngay cả cơ quan hoạch định, quản lý, điều hành thị trường cũng không thể nào hình dung được.
Còn nhớ ngày khai trương sàn giao dịch TPHCM ( 20-7-2000) , các định chế chứng khoán chỉ bao gồm 6 công ty chứng khoán và một vài công ty quản lý quỹ nước ngoài.Hiện nay Việt Nam đã có 55 công ty chứng khoán và hơn 30 công ty quản lý quỹ và quỹ. Theo ủy ban chứng khoán Nhà nước, đến giữa tháng 3- 2007, 158.000 tài khoản đã được mở. Năm chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó có những tên tuổi lớn như HSBC, Citigroup, Destche Bank, Stankard Chartered Bank…được thực hiện nghiệp vụ lưu ký chứng khoán cho nhà đầu tư.
Nhưng điều đáng nói hơn cả về quy mô hiện nay của thị trường chứng khoán chính là sự tham gia ngày càng đông đảo của nhiều tầng lớp dân cư. Chứng khoán đã trở thành một kênh huy động vốn có thể cạnh tranh ngang ngửa với ngân hàng. Lần đầu tiên trong suốt bao nhiêu năm mở cửa, người dân đã tự nguyện đưa những đồng tiền của mình, vốn trước đây được tích lũy dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiết kiệm, đất đai…vào đầu tư chứng khoán. So với Trung Quốc, nơi đang có 5% dân cư tham gia mua bán chứng khoán hay Hoa Kỳ, nơi có 60 % dân số sở hữu cổ phiếu, thì tỷ lệ đầu tư chứng khoán trên dân số của Việt Nam vẫn chưa thấm vào đâu. Song điều khiến chúng ta hy vọng là với một nền chính trị ổn định, một nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững sẽ ngày càng phát triển va sẽ có nhiều người dân trở thành nhà đầu tư chứng khoán.
Cuốn sách này không có tham vọng và cũng không thể bao quát mọi vấn đề của thị trường chứng khoán Việt Nam. Công việc này đòi hỏi một sự nghiên cứu dài hơi. Với tư cách là một nhà báo chuyên ngành tài chính – chứng khoán của Thời báo Kinh Tế Sài Gòn , tác giả đã theo sát thực tế để phản ánh những diễn biến đáng chú ý trên thị trường chứng khoán nước ta từ lúc mới hình thành đến giai đoạn phát triển hiện nay. Đi liền với với yếu tố thông tin sự kiện là những phân tích, bình luận của người viết và đặc biệt là của các chuyên gia, các nhà đầu tư am tường lĩnh vực này. Do vậy, những bài viết được tuyển chọn trong cuốn sách này, sẽ giúp độc giả có cái nhìn tương đối xuyên suốt về những bước đi, sự thăng trầm – nóng lạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua.
Có thể độc giả sẽ ngạc nhiên khi biết rằng ngày thị trường mở cửa chỉ mới có hai loại cổ phiếu, hoặc có những thời điểm công ty chứng khoán vắng ngắt như chùa bà Đanh và một số cổ phiếu mà sau này được gọi là hàng hiệu ( blue chips) tụt giá đến mức thấp hơn mệnh giá 10.000 đồng, thậm chí có lúc giới quan sát phàn nàn “ Thị trường ngủ gật’’…Tuy vậy, sự nhìn lại đó cũng có thể giúp độc giả dự báo đến mức nào đó khả năng và xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán trong tương lai.
Hy vọng rằng cuốn sách này sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu của đông đảo độc giả quan tâm, tìm hiểu về thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh loại sách viết về đề tài này hãy còn quá ít ỏi.
Thời báo Kinh Tế Sài Gòn
Lời giới thiệu
Những công chúng được mến mộ thường chỉ được gọi bằng tên trống không, để mọi người cảm thấy được gần gũi họ trong lòng, không bị cắt chia bởi giới tính hay tuổi tác. Tôi xin dùng cách này – bởi vì lòng mình cũng có để có về tác giả của quyển sách mà quý vị đang cầm trong tay. Vâng, Hải Lý.
Hải lý không chỉ hưởng một nền học vấn đầy đủ mà còn từng trải nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán. Tôi biết Hải Lý đã lâu, và có nhiều hỏi han về chị. Kiến thức của chị không chỉ vỏn vẹn trong nước mà còn ơ cả nước ngoài. Những chất liệu đó đã được Hải Lý đưa vào công việc của mình qua nhiều bài báo và nay chúng được tập hợp ở đây để thành một quyển sách quý vị cầm tay.
Viết báo về một chuyên đề thì khó hơn là viết sách. Vì thế báo thì chỉ được viết trong khoảng hơn hai trang, nếu quá sẽ bị cắt ngay , hay bị bỏ luôn; trong khi viết sách thì có thể lan man. Viết về tài chính, chứng khoán lại càng khó hơn vì phải giải thích rành mạch các tập tục lâu đời ở các nước phát triển cho độc giả mới biết lần đầu chỉ bằng vài dòng vì…trang báo có hạn ! Ấy thế mà Hải Lý vượt qua được , như quý vị sẽ thấy ở đây.
Ở đây, những bài báo của Hải Lý được tập hợp theo thứ tự thời gian, có thể vô tình hay hữu ý ; nhưng cách làm ấy đã biến quyển sách này thành một tác phẩm về lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam! Khi đặt tên cuốn sách là Nóng lạnh chứng khoán, Hải Lý có vẻ quan tâm đến tính chất của một ngôi chợ, náo nhiệt hay đìu hiu; nhưng chúng ta sẽ tìm thấy ở đây một sử liệu. Và với những ai muốn biết thị trường chứng khoán Việt Nam đã hình thành và phát triển như thế nào thì quyển sách này là một tài liệu bổ ích.
Đi vào tài liệu lịch sử một tý, ta thấy thế này. Có nhiều định chế lâu đời đang tồn tại trên thế giới thoạt đầu chỉ là một sự tình cờ. Chẳng hạn, vào thời Thập tự chinh ( Crusades ) , các hiệp sĩ ở Âu châu trước khi lên đường tham chiến đã chuyển giao đất đai hay tài sản của họ cho những người bạn thân, tin tưởng được ( trusted friends ) phòng khi có bỏ xác nơi sa trường. Sự lo lắng này đã tạo nên định chế “ trust” ( ủy thác ) , rất phổ biến ở các nước Anglo – Saxon, sau lan sang Âu châu và hiện nay đến các nước Á châu. Định chế đó giúp cho người giàu giữ cho con cái không hư hỏng, góp tiền cho các chương trình phục vụ xã hội và …tránh thuế đánh trên di sản. Và những quỹ này trở thành đại gia đầu tư trong thị trường chứng khoán.
Cũng tương tự như thế là thị trường chứng khoán New York. Một buổi sáng ngày 17 tháng 5 năm 1792, 24 người môi giới họp nhau dưới một gốc cây ở cuối phố Wall; họ cam kết không bán đấu giá công khai chứng khoán và dành cho nhau ưu đãi. Đó là “ Thỏa ước Buttonwood’’ và nó tạo nên thị trường chứng khoán. 142 năm sau, chính phủ Mỹ mới quy định luật lệ cho nó để ngày càng trở thành một nơi xác định một giá công bằng cho việc mua bán, giúp việc mua bán diễn ra nhanh chóng và ít tốn kém.
Ở các nước , tập tục phát sinh trước, luật lệ ra sau và người ta đã có những định chế vững chắc. Ở nước ta, tình cảnh hoàn toàn ngược : luật pháp tạo ra tập tục. Vậy nó đã diễn ra thế nào? , sẽ có thành định chế không và bao lâu? Giữ câu hỏi đó trong đầu khi đọc Nóng lạnh chứng khoán của Hải Lý, độc giả sẽ thấy mình đang khám phá. Chị đã chọn nhiều vấn đề, nhiều loại người, nhiều biện pháp và nhiều hoàn cảnh để ghi lại. Thật là thích thú cho những vị nào muốn ghép một bức tranh về lịch sử của một định chế tinh vi nhất của nhân loại phát triển tại một quốc gia mà ở đó việc sử dụng séc chưa phổ biến trong dân chúng.
Hải Lý thuộc phái đẹp, nên khi nắm bắt và ghi lại các điều trên, chị không chỉ dùng ngòi bút mà còn có cả giác quan thứ sáu. Do đó, độc giả sẽ thấy ở đây rất nhiều điều:
- Chị không chỉ “mô tả lịch sử” như: “ Trung tâm giao dịch chứng khoán vừa được sơn quét lại. Trước đây vài tháng, giới báo chis có thể ra vào trung tâm khá dễ dàng, nhưng bây giờ muốn bước qua cổng, họ phải trình giấy giới thiệu , thẻ nhà báo và đợi nhân viên bảo vệ gọi điện gọi điện vào xin ý kiến. Chẳng ai giải thích vì sao có sự thay đổi ấy, nhưng tất cả nhân viên trung tâm và không ít công chúng đều biết rằng thời điểm khai trương sàn giao dịch chỉ còn tính từng ngày…”( TBKSG, ngày 13 – 7 – 2000 );
- Mà còn “ nhận xét lịch sử’’: “…Chứng khoán, xét về một mặt nào đó, cũng giống như thị trường bất động sản, không thể thiếu đầu cơ. Vấn đề là phải có cơ chế điều tiết sự đầu cơ ấy. Khi khung pháp lý chưa bắt kịp thực tế, thị trường đã có những phản ứng thay thế. Ví dụ thông qua nghiệp vu repo ( mua bán cổ phiếu có kỳ hạn ) hiện nhiều nhà đầu tư đã tham gia mua khống”; ( TBKTSG, ngày 2 – 3- 2006 ) ;
- Và đặt “ câu hỏi cho lịch sử” như trong bài phỏng vấn ông Chris Freund , Giám đốc điều hành Mekong Capital: “Chính phủ Việt Nam đang tỏ rõ quyết câm cải cách khu vực doanh nghiệp quốc doanh thông qua việc cổ phần hóa các tổng công ty, doanh nghiệp lớn. Giới đầu tư nước ngoài mà ông có quan hệ đánh giá ra sao sự chuyển biến này? Theo ông, việc đẩy nhanh cải cách kinh tế quốc doanh đòi hỏi phải làm thêm những gì?” ( TBKTSG, ngày 15- 4 – 2004 )
Tôi còn có thể trích ra nhiều đoạn nữa cơ, nhưng đang nghe có đọc giả bảo : “ Thôi, để cho người ta đọc chứ!’’ Vâng ạ. Vậy , cùng chung lời với chính tờ báo nơi Hải Lý đang làm việc, tôi xin chân trọng giới thiệu cuốn sách Nóng lạnh chứng khoán cùng độc giả.
Nguyễn Ngọc Bích
Tháng 3 năm 2007 Nguồn:
Nhà XB Trẻ Số lượt đọc:
486
-
Cập nhật lần cuối:
08/12/2007 10:48:53 AM |