|
Quan điểm chiếm ưu thế hiện nay coi mục tiêu phát triển là phải nâng cao chất lượng cuộc sống con người, với đảm bảo sao cho có sự kết hợp hài hóa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa mức sống cao với lối sống và quan hệ xã hội tốt đẹp, không chỉ cho một số ít người mà cho toàn thể xã hội
Để đạt được mục tiêu đó, nhất thiết phải có sự phát triển cao về kinh tế, về cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ. Song chỉ như thế chưa đủ và rất không đúng nếu hiểu xây dựng kinh tế chỉ là tăng trưởng đơn thuần, tăng trưởng với bất kỳ giá nào, thậm chí hy sinh văn hóa, hy sinh phẩm giá con người.
Văn hóa bắt nguồn từ các nguồn nhân lực của con người. Con người là chủ thể, là linh hồn của sự sáng tạo, là nhân tố hàng đầu của văn hóa. Hội nghị liên Chính phủ về chính sách văn hóa vì sự phát triển do UNESSCO tổ chức tại Xtốckhôm (Thụy Điển) đã khẳng định : Sự sáng tạo văn hóa là động lực tiến bộ của loài người, sự đa dạng của văn hóa là kho tàng quý báu nhất của nhân loại và là một yếu tố cần thiết của sự phát triển. Quan điểm đó đã góp phần khắc phục được cách nhận thức của một số người chỉ nhấn mạnh vai trò của kinh tế, coi văn hóa là lĩnh vực thứ yếu, là hoạt động đứng ngoài kinh tế, ăn theo kinh tế, chịu sự quy định một cách đơn giản của kinh tế, mà ít chú ý đến các giá trị và vai trò của văn hóa.
Thực tiễn ngày càng giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn vị trí, vai trò của văn hóa trong mối quan hệ của con người với cộng đồng, với tự nhiên ,được bồi đắp lên trong suốt chiều dài lịch sử, là các thành tố cấu thành văn hóa, làm nên nền tảng tinh thần xã hội, giữ vai trò cực kỳ quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Hội nghị liên Chính phủ về chính sách văn hóa do UNESSCO tổ chức tại Thụy Điển cũng đã nhấn mạnh : Sự phát triển của xã hội chính là sự phát triển của văn hóa, và sự thăng hoa của văn hóa là đỉnh cao nhất của sự phát triển.
Văn hóa là thuộc tính bản chất của con người, văn hóa dùng để chỉ đặc điểm và nhân tố nhân tính, nhân văn nói chung của loài người, văn hóa có trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động của con người: kinh tế, chính trị, nghiên cứu, giao tiếp, lao động, sáng tạo nghệ thuật, kinh doanh…
Có thể nói, văn hoá không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhưng với chức năng quan trọng hàng đầu của văn hoá là chức năng nhận thức giáo dục, thẩm mỹ thì sức mạnh và hiệu quả của nó có thể huy động được toàn bộ các năng lực tinh thần của con người và tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống con người.
Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường và mở cửa nền kinh tế ra bên ngoài của nước ta đã làm sôi động nền kinh tế và các hoạt động xã hội, phát triển giao lưu hàng hoá, du lịch và các sản phẩm văn hoá, giúp nhân dân ta mở rộng chân trời hiểu biết về kho tàng tri thức tiếp nhận từ bốn phương. Điều dễ nhận thấy trong sự thay đổi này là tính năng xã hội – kinh tế và tính tích cực của công dân được khơi dậy và phát huy thay thế cho tâm lý thụ động. Vai trò của văn hóa được nhận thức ngày càng sâu sắc hơn. Phát triển kinh tế đã bước đầu coi trọng nhân tố văn hoá. Kinh doanh thương mại- dịch vụ đã chú trọng văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá doanh nhân.
Quan niệm về văn hoá kinh doanh.
Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con người xuất hiện cùng với kinh tế hàng hoá và thị trường. Ngày từ thời cổ đại, đã có tầng lớp những người làm nghề kinh doanh hay còn gọi là doanh nhân. Kinh doanh bao gồm nhiều hình thức khác nhau : buôn bán (thương mại), sản xuất, dịch vụ, thông tin, tư vấn… Xét về lịch sử kinh doanh thương mại thì mua bán, trao đổi và lưu thông hàng hoá là loại hình kinh doanh đầu tiên xuất hiện và có liên quan đến sản xuất và trao đổi gồm nhiều công đoạn khác nhau như: đầu tư, sản xuất, marketing, dịch vụ bảo hành…Đó là một hệ thống hoạt động gồm nhiều chuyên ngành nghiệp vụ như : quản trị kinh doanh, công nghệ và kỹ thuật sản xuất, chất lượng mua hàng, bán hàng, kế toán , tài chính…Các dạng hoạt động trên đều có chủ thể hoạt động với các nghề nghiệp chuyên môn. Vì vậy, luật doanh nghiệp của nước ta đã đưa ra định nghĩa kinh doanh từ bản chất của nó: “ Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Mục đích của kinh doanh là sinh lợi, là đem lại lợi nhuận cho mọi người kinh doanh hay còn là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh bao gồm các cá nhân, tổ chức, doanh nhân có hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá trên thị trường. Khách thể kinh doanh là những khách hàng của chủ thể bao gồm người tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp và cả những nhà kinh doanh trong mối quan hệ bạn hàng hoặc cùng hợp tác kinh doanh. Trong mối quan hệ đó, người tiêu dùng (khách thể) giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Họ là trung tâm của thị trường, là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc vào sức mua của người tiêu dùng nên người kinh doanh phải căn cứ vào nhu cầu thị hiếu, sở thích của khách hàng để cung cấp cho họ một lượng hàng hoá hay dịch vụ nào đó nhằm thu lại một lượng tiền với mức lợi nhuận nhất định. Sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng có chấp nhận hàng hoá, sản phẩm đó hay không.
Vấn đề văn hóa kinh doanh được đặt ra và giải quyết trong mối quan hệ tương hỗ về lợi ích giữa ba chủ thể chính của nền kinh tế thị trường là Người tiêu dùng – Nhà doanh nghiệp – Nhà nước. Ba chủ thể có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình kinh tế. Nhà nước ban hành chính sách, pháp luật và thực hiện những mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội. Các doanh nghiệp có trách nhiệm tuân thủ theo đúng pháp luật, chính sách của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước. Người tiêu dùng được thụ hưởng (từ việc mua) các sản phẩm có giá trị vật chất và tinh thần từ các doanh nghiệp được Nhà nước quản lý và điều tiết với giá cả hợp lý..
Nhà nước là chủ thể quan trọng trong nền kinh tế thị trường, sự điều tiết của Nhà nước thông qua chủ trương, chính sách và luật lệ, có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Do đó mỗi chính sách, chủ trương truớc khi ban hành cần được phân tích kỹ lưỡng và xây dựng trên luận cứ khoa học chắc chắn, có tính quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Mỗi chính sách đúng đắn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng. Một chính sách thiếu chính xác sẽ làm ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển kinh tế - xã hội.
Theo nhà nghiên cứu Đỗ Huy: “ Bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng, cái tốt, cái đẹp”. Vì lý do đó, người ta nói kinh doanh có văn hoá bao gồm cả trí tuệ của nhà triết học, lòng dũng cảm của người lính và tài năng của nhà kinh doanh.
Để cái lợi gắn với cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong kinh doanh và thoả mãn nhu cầu và thị hiếu của con người, trong mỗi xã hội đều hình thành các truyền thống văn hoá kinh doanh trong nền văn hoá của mình. Bản chất văn hoá kinh doanh gắn với văn hoá đạo đức. Văn hoá đạo đức là sự phản ánh lợi ích của cộng đồng. Khi nhà kinh doanh làm cho giá trị và lợi ích chung của cộng đồng được củng cố thì việc kinh doanh đó có sức mạnh bởi sự tín nhiệm của cộng đồng. Chữ “tín” là nội lực phát triển của nghề kinh doanh: “Văn hoá kinh doanh được thống nhất trong bản thân nó các giá trị đạo đức, giá trị kinh tế và được các giá trị điều hoà”
Văn hoá kinh doanh không thể tách rời văn hoá chính trị. Văn hóa kinh doanh phải thống nhất với các mục tiêu của văn hoá chính trị. Chúng ta đang làm cho kinh tế thị trường ngày càng được mở rộng và vận hành phù hợp với quy luật khách quan hơn. Song nó phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Văn hoá kinh doanh trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở nước ta trong những năm qua đã chú ý tới những điểm chính là: Kinh doanh đạt năng suất cao, giá thành hạ, tạo ra được nhiều sản phẩm có giá trị và giá trị thặng dư, sản phẩm đạt chất lượng cao được xã hội chấp nhận, hoạt động kinh doanh đảm bảo tuân thủ chính sách pháp luật, làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước, tạo lòng tin (chữ “tín”) vững chắc, ổn định đối với khách hàng.
Quan niệm về văn hoá doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được của đời sống kinh tế - xã hội. Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có chức năng kinh doanh hàng hoá, dịch vụ một cách hợp pháp nhằm đạt tới lợi nhuận và các mục tiêu kinh tế - xã hội khác.
Trong những năm gần đây, văn hoá doanh nghiệp được nhắc tới khá nhiều trong giới nghiên cứu khoa học và giới kinh doanh nước ta.
Cấu trúc của văn hoá doanh nghiệp có thể nhìn nhận theo mối quan hệ ứng xử trong nội bộ doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với khách thể. Tuy nhiên hướng xem xét cấu trúc của văn hoá doanh nghiệp dựa vào các thành tố cấu thành của nó rõ ràng, dễ nhận thấy nhất. Vì vậy cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp bao gồm 4 thành tố chính:
Một là, triết lý kinh doanh, tức tư tưởng, quan điểm của doanh nghiệp về kinh doanh, được khái quát thành tôn chỉ, mục đích, phương châm hành động của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Triết lý kinh doanh sẽ định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp. Vì thế triết lý kinh doanh là cốt lõi của phong cách kinh doanh, là hạt nhân, trụ cột của văn hóa doanh nghiệp. Nó là lực hướng tâm của mọi thành viên trong doanh nghiệp phấn đấu vươn tới sự thành công của doanh nghiệp.
Hai là, hệ thống công nghệ kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện… mà doanh nghiệp sử dụng để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm và dịch vụ mong muốn. Nó bao gồm những yếu tố cơ bản là: công cụ, con người, thông tin, tổ chức.
Ba là, hệ thống biểu hiện của doanh nghiệp.Người ta có thể ví hệ thống biểu hiện trong văn hoá doanh nghiệp giống như “khuôn mặt” của chính doanh nghiệp đó. Những biểu hiện ấy là lôgô, huy hiệu, thương hiệu, trang phục, biểu tượng, lễ hội, các giai thoại…Đó không phải là những cái ngẫu nhiên bất kỳ mà là một quá trình tìm tòi, lựa chọn lâu dài của doanh nghiệp sao cho các biểu tượng ấy phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm của doanh nghiệp và mang bản sắc riêng cho doanh nghiệp ấy. Lúc đó, hệ thống biểu hiện ấy trở thành sức mạnh, nội lực của doanh nghiệp. Ngày nay, thương hiệu là một yếu tố được các doanh nghiệp rất quan tâm. Bởi thuơng hiệu là biểu hiện cho uy tín, chất lượng của doanh nghiệp, nói cách khác là nhân cách của doanh nghiệp.
Bốn là, nhân cách người lãnh đạo và các thành viên trong doanh nghiệp. Đây là nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp và cũng là thành tố quan trọng nhất của văn hoá doanh nghiệp. Yếu tố đạo đức, nhân cách, tài năng của người lãnh đạo và của mỗi thành viên doanh nghiệp là nguồn lực bền vững và ổn định nhất cho sự thành công của doanh nghiệp. Để doanh nghiệp ngày càng phát triển thì mỗi người phải có tinh thần trách nhiệm cống hiến, làm việc hết khả năng vì mục đích chung của doanh nghiệp và xã hội.
Nhân tố nhân cách của người kinh doanh, đặc biệt là người lãnh đạo doanh nghiệp trở thành bộ phận quan trọng nhất trong cấu trúc của văn hoá doanh nghiệp. Đó chính là Văn hoá doanh nhân.
Văn hóa doanh nhân
Doanh nhân là các nhà kinh doanh, là các chủ thể doanh nghiệp tham gia tích trực tiếp vào các hoạt động thương mại hàng hoá, cung cấp dịch vụ hoặc tiến hành các hoạt động đầu tư. Vì vậy, nhân cách của doanh nhân là rất quan trọng, họ là hạt nhân trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp, họ là tấm gương phản ánh văn hoá doanh nghiệp.
Doanh nhân là nhân tố chủ đạo của doanh nghiệp, vì thế văn hoá doanh nhân là cốt lõi của văn hoá doanh nghiệp, quyết định sự hình thành, ổn định và phát triển của văn hoá doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nhân là cơ sở để điều tiết mọi mối quan hệ trong kinh doanh. Tuy nhiên, phải nhìn nhận yếu tố của văn hoá doanh nhân mọi cách dung dị và chấp nhận phản đề của sự kiện. Phạm trù của văn hóa doanh nhân chính là nỗ lực chủ quan về tài - đức của người kinh doanh. Hoạt động kinh doanh phải hướng tới các giá trị nhân văn và đồng thời phải chịu sự chi phối của gia đình, cộng đồng dân tộc, thể chế nhà nước (quốc gia) và các chuẩn mực quốc tế trong kinh doanh thương mại, hướng tới sự tiến bộ của xã hội.
Có thể nhận thấy rằng: sự xuất hiện và khẳng định của các khái niệm văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp,văn hoá doanh nhân đã chứng tỏ nhân tố văn hoá ngày càng thấm sâu vào trong đời sống và hoạt động kinh tế - xã hội ở nước ta. Các khái niệm ấy đều có điểm chung là nằm trong phạm trù “văn hoá kinh tế”, là các bộ phận của “ văn hoá kinh tế”. Vấn đề cốt lõi của sự phát triển kinh tế bền vững và lành mạnh là xây dựng Văn hóa doanh nhân. Bởi con người là chủ thể của văn hoá, văn hoá doanh nhân là chủ thể của văn hoá doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân quyết định sự hình thành văn hoá kinh doanh, quyết định thành công của văn hoá doanh nghiệp. Xây dựng nhân cách văn hoá (tài năng và đạo đức) của doanh nhân (văn hóa doanh nhân), văn hoá kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp đòi hỏi sự tham gia của cả cộng đồng (Đảng, Nhà nước, đoàn thể, xã hội, gia đình) nhưng quan trọng và quyết định là sự nỗ lực “rèn đức luyện tài” của mỗi doanh nhân, mỗi doanh nghiệp để kinh doanh vừa ích nước, vừa lợi nhà ,vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Số lượt đọc:
2632
-
Cập nhật lần cuối:
24/11/2008 01:30:05 PM | |  | Bài liên quan: |  | | | |
 | Bài đã đăng: |  | | |
|