Tác hại của những điều thường được rao giảng cho các học viên MBA trầm trọng hơn nhiều so với tính xa rời thực tế của đa số chương trình đào tạo MBA.
Phần 1
Chương trình đào tạo MBA và khủng hoảng kinh tế
Tác hại của những điều thường được rao giảng cho các học viên MBA trầm trọng hơn nhiều so với tính xa rời thực tế của đa số chương trình đào tạo MBA. Chẳng hạn như mô hình quản lý tối đa giá trị của các cổ đông - một chủ đề chính của các khóa học MBA mà cố học giả Sumantra Ghoshal đã lên tiếng phản đối - đã đề cao phục vụ lợi ích ngắn hạn của các cổ đông và lợi ích cá nhân thuần túy của nhà quản lý như là những phẩm chất cao quý của nhà quản lý. Vì thế, lối đào tạo kiểu này thu hút hoặc sản sinh ra các "cá thể tự do" cũng là chuyện chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Để có thể đánh giá rõ hơn mối liên hệ giữa đào tạo MBA và khủng hoảng kinh tế hiện nay, chúng ta phải có những minh chứng cụ thể. Trước hết, như một số học giả đã chỉ ra, mô hình ứng xử giữa các cá nhân theo thói gia trưởng đã được giảng dạy cho học viên quản trị kinh doanh - một mô hình có nguồn gốc trực tiếp từ lý thuyết đại diện tân cổ điển - không chỉ sai lầm về lý luận mà còn góp phần nhân rộng những hành vi làm thui chột hoạt động quản lý có hiệu quả. Lề lối tác phong hình thành từ mô hình nhận thức thiển cận của kinh tế học tân cổ điển khiến các nhà quản lý doanh nghiệp đang sở hữu "tấm bùa" MBA coi trọng động cơ hành vi ngoại lai, như trả tiền và đe dọa, hơn là động cơ nội tại như tài năng hoặc phẩm chất. Những lựa chọn như vậy làm giảm hẳn hiệu quả hoạt động của tổ chức trong dài hạn [1].
Các học giả khác như Robert Siller cho rằng hoạt động đào tạo tại các trường quản trị kinh doanh hiện nay phải giúp học viên làm quen với nguyên tắc bảo vệ lợi ích vị kỷ và hạn chế trách nhiệm. Họ triển khai ý tưởng cho rằng các nhà quản lý chỉ nên định hướng hành vi của mình trong khoảng tối đa hóa giá trị của cổ đông và lợi nhuận ngắn hạn mà không cần quan tâm đến ảnh hưởng đối với các thành phần khác như nhân viên, khách hàng hoặc cộng đồng [2].

Những chỉ trích của Ghoshal còn nặng nề hơn. Ông quả quyết rằng chương trình giảng dạy của các trường quản trị kinh doanh hiện nay và đội ngũ giáo sư tại các trường này đã trực tiếp sản sinh ra nhiều hành vi nhũng nhiễu trong công tác quản lý, bao gồm cả chi phí quản lý quá lớn và bỏ qua những nguyên tắc đạo đức. Ông cho rằng các lý thuyết hiện nay dạy học viên là nhà quản lý và nhân viên không thể và không nên tin tưởng lẫn nhau, điều này dẫn đến sự xuất hiện của chu kỳ tự hợp thức, tự củng cố, khuyến khích chủ nghĩa cơ hội, dối trá và gian lận.
Một lý thuyết điển hình mà Ghoshal dẫn ra đây là lý thuyết đại diện. Lý thuyết đại diện khởi phát như một mô hình kinh tế doanh nghiệp, nó đưa ra một khung nhận thức chung quy tụ các lĩnh vực riêng lẻ trước đây như kế toán, chiến lược, tài chính và hành vi tổ chức. Lý thuyết hợp nhất các lĩnh vực trong quản trị kinh doanh, điều mà ngành đào tạo quản trị kinh doanh đang thiếu trầm trọng và đang nóng lòng muốn có, đã được phát biểu trong một loạt bài viết của Michael Jensen và các đồng nghiệp của ông.
Họ đề ra một lộ trình để khẳng định về mặt lý luận rằng mục đích duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị cổ đông và do đó nhà quản lý có động cơ tự đề cao cá nhân khác với động cơ của cổ đông. Giám sát các nhà quản lý đó trong điều kiện vốn phân tán rộng rãi là một thách thức lớn trong thực tế[3]. Thách thức này tạo ra một "định biên lợi ích", trong đó lợi ích tài chính của bản thân các nhà quản lý sẽ tương ứng với lợi ích của chủ sở hữu. Thật vậy, nhiều luận điểm trong các bài viết mang tính "xây nền đặt móng" này đã nhấn mạnh ba cơ chế trong định biên lợi ích: giám sát hiệu quả quản lý, đáp ứng đầy đủ lợi ích kinh tế và thúc đẩy một thị trường năng động để kiểm soát doanh nghiệp.
Giám sát hành vi quản lý liên quan đến triển khai hoạt động các hoạt động kế toán phức tạp và công tác bổ nhiệm ban giám đốc có chuyên môn, trong đó các thành viên hoạt động phục vụ lợi ích của cổ đông bởi vì họ cần phải duy trì uy tín cá nhân của mình. Những lợi ích toàn diện về kinh tế liên quan đến những ưu đãi trong quản lý như cổ phần công ty và quyền ưu tiên đặt mua cổ phiếu do đó các nhà quản lý và chủ sở hữu cùng có lợi ích kinh tế hoàn toàn giống nhau. Thị trường kiểm soát doanh nghiệp đề cao giá bán của cổ phiếu chứ không phải tăng trưởng doanh nghiệp trong dài hạn hay tỷ lệ lợi nhuận - cổ tức.
Lý thuyết đại diện dạy rằng giá bán cổ phiếu phản ánh trung thực những giá trị căn bản của doanh nghiệp và quả quyết rằng "những người trong nội bộ doanh nghiệp" hoạt động yếu kém sẽ bị đe dọa và cuối cùng sẽ được thay thế bằng "người ngoài doanh nghiệp" hoạt động hiệu quả và có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận.

Lý thuyết đại diện đã nhanh chóng hình thành phương pháp tiếp cận thống nhất cho các tổ chức và công tác quản trị doanh nghiệp trong các trường quản trị kinh doanh của Mỹ. Phương pháp này đã đẩy nhanh tốc độ cuộc cách mạng học thuật trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, hành vi tổ chức, kế toán, quản trị doanh nghiệp và thị trường kiểm soát doanh nghiệp.
Lý thuyết đại diện cũng khởi xướng một hệ hình mới trong nghiên cứu và lý luận quản lý, song khác với những kiến thức được dạy trong hầu hết các trường quản trị kinh doanh trước đây, nó không sản sinh ra nhiều nghiên cứu thực nghiệm. Bởi vì các ý tưởng cốt lõi trong lý thuyết đại diện không hình thành dựa trên quan sát quy nạp hoặc kinh nghiệm thực tế mà từ những suy luận vu vơ của lý thuyết kinh tế tân cổ điển vừa mới hồi sinh.
Vào đầu những năm 1970, lý thuyết đại diện đã vận dụng phương pháp diễn dịch, trừu tượng cao vào những nghiên cứu trong các trường quản trị kinh doanh, sau đó từng bước áp dụng lý thuyết này vào các hiện tượng muôn hình vạn trạng của doanh nghiệp. Nhờ sức mạnh của kinh tế học vĩ mô ngày càng lớn và năng lực vượt trội của bộ môn này trong việc lý giải tình trạng kinh tế đình đốn những năm 1970, lý thuyết đại diện đã nhanh chóng phục hồi đời sống tri thức của các trường quản trị kinh doanh hàng đầu. Đến những năm 1980, phương pháp này đã đủ năng lực để phân loại và đánh giá hành vi quản lý trong ban giám đốc.
Lý thuyết đại diện đã dẫn đến một cuộc tấn công vào tính xác thực của quyền quản lý như các trường quản trị kinh doanh truyền thống vẫn công nhận. Lý thuyết này giả định rằng các nhà quản lý không quan tâm phục vụ lợi ích của cổ đông trừ những nghĩa vụ phải làm theo hợp đồng chính thức. Tuy nhiên, khi coi các nhà quản lý là những đại diện ít tin cậy nhất của cổ đông, những người theo lý thuyết đại diện đã loại bỏ được tầm quan trọng của các yếu tố như trách nhiệm, lòng trung thành hoặc lương tâm xã hội. Tất nhiên, phương pháp này chỉ ra cách quan trọng nhất để khẳng định vai trò của nhà quản lý và doanh nghiệp là thông qua những lập luận sắc bén và các phân tích định lượng.

Những thay đổi căn bản trong việc xác định mối quan hệ giữa nhà quản lý và doanh nghiệp dẫn đến sự biến đổi toàn bộ quy chuẩn chung. Khi tất cả các khái niệm về mối quan hệ xã hội và quan hệ giữa các cá nhân nói chung giữa nhà quản lý và doanh nghiệp (cũng như mối quan hệ giữa doanh nghiệp và một cộng đồng lớn hơn) bắt đầu biến mất, thì bản chất đặc trưng của công tác quản trị đã tự chuyển hóa. Học viên MBA không được chỉ bảo rằng tính chuyên nghiệp trong quản lý được hình thành dựa trên trách nhiệm đối với doanh nghiệp, đối với số đông thành viên của doanh nghiệp và lớn hơn là đối với xã hội. Thay vào đó, họ được dạy là các nhà quản lý có vị trí độc tôn vì họ có khả năng duy trì dòng tiền "chảy vào như nước" và giá cổ phiếu ngắn hạn tăng cao.
Cũng giống như mọi tư tưởng duy vật nổi tiếng trước đây đã được lý giải trong thế kỷ XX, mong muốn cao nhất của tư tưởng mới về quản trị là tạo ra một lớp người mới. Điểm hấp dẫn của hệ tư tưởng này là nỗ lực mưu cầu lợi ích cá nhân. Học viên quản trị kinh doanh luôn bị "nhồi sọ" chỉ tập trung vào lợi ích ngắn hạn của bản thân - một phiên bản què quặt của học thuyết Adam Smith. Họ được dạy để biết cách vừa làm ra tiền và tạo ra của cải.
Khôi phục sứ mạng
Hơn một trăm năm sau khi xuất hiện lần đầu tiên, mô hình trường quản trị kinh doanh thuộc các đại học vẫn chưa ổn định, thậm chí vẫn còn trong giai đoạn phôi thai. Theo dòng lịch sử, từ khát vọng được công nhận là một ngành đào tạo của những người sáng lập cho tới những trường quản trị kinh doanh thuộc các đại học chỉ phục vụ mục đích thương mại như ngày nay, câu hỏi xưa cũ là tại sao lại có những trường quản trị kinh doanh trong hệ thống các đại học giờ lại có vị trí vô cùng quan trọng.
Ngày nay, không trường quản trị kinh doanh nào đưa những dòng như nhà trường được hình thành và tồn tại để "đem lại cho học viên của mình siêu lợi nhuận từ những khoản đầu tư" hoặc để "tối đa hóa giá trị cổ đông" trong tuyên bố sứ mạng của mình (dù nhiều trường đã in trong các tài liệu marketing của họ). Nhưng trong thực tế, điều này cũng quan trọng ngang với mục đích đào tạo MBA hiện nay. Hầu như tất cả các trường quản trị kinh doanh bây giờ đều tuyên bố sứ mạng của mình theo chủ đề chính, dù cách diễn đạt có khác nhau, đó là đào tạo "các nhà lãnh đạo". Tuy nhiên, những "nhà lãnh đạo" ấy không đưa ra một nền tảng chuẩn mực hoặc trí tuệ nào dù là nhỏ nhất đối với cơ sở đào tạo bậc đại học, người ta đồ rằng cái danh hão "lãnh đạo" là một mồi nhử hấp dẫn cho "khát vọng hướng thượng" mà không cần phải trải qua chông gai cũng như những đòi hỏi của quá trình đào tạo những chuyên gia thực sự.
Trong khi đó, học viên MBA (cũng gần giống như sinh viên luật) xuất phát từ nhận thức: nội dung đào tạo tại các trường quản trị kinh doanh của mình chẳng dính dáng gì mấy đến thực tiễn kinh doanh, cho nên đã đánh giá kinh nghiệm quản trị kinh doanh của mình chủ yếu dựa trên khả năng tiếp cận các mối quan hệ do những kinh nghiệm ấy tạo ra.
Họ làm như vậy là đúng. Những đặc trưng quan trọng nhất phân biệt trường quản trị kinh doanh với các đối thủ cạnh tranh - các tổ chức vì lợi nhuận, có số lượng ngày càng tăng - chính là uy tín và các dạng vốn xã hội do các đại học tích lũy và sẵn sàng chia sẻ với các trường quản trị kinh doanh. Cách đây hơn một thế kỷ, khi những trường quản trị kinh doanh đầu tiên được thành lập, các đại học sẵn sàng chia sẻ vốn xã hội của mình để đưa đào tạo quản trị kinh doanh vào hệ thống giảng dạy và chuyển hóa nó theo mô hình đại học. Tại sao hiện nay các đại học vẫn tiếp tục chia sẻ vốn xã hội, trong khi các trường quản trị kinh doanh trệch hướng quá xa so với sứ mạng đào tạo và xã hội của mô hình đại học?
Có khả năng là mặc dù một thế kỷ trước đây các trường quản trị kinh doanh phải áp dụng các giá trị của mô hình đại học để được thành lập nhưng các đại học của Mỹ hiện nay lại áp dụng ngày càng nhiều giá trị của các trường kinh doanh. Thực vậy, quá trình kiểm chứng trong một phần tư thế kỷ vừa qua được tiến hành triệt để tới mức người ta có thể tranh luận xem các đại học (trừ những trường danh tiếng nhất) phải hàm ơn các trường quản trị kinh doanh ra sao chứ không phải các trường quản trị kinh doanh phải mang ơn các đại học như thế nào.
Than ôi! Đây không phải là một đề nghị khiếm nhã. Công tác đào tạo quản trị kinh doanh đã tách quá xa khỏi những mục tiêu ban đầu của một cơ sở trực thuộc đại học, đến nỗi chúng ta phải bắt đầu điều tra như nhiều người đã đề xuất với mớ trường cao đẳng rẻ tiền. Các trường quản trị kinh doanh cần phải xem xét vấn đề cốt lõi mà những người sáng lập đã đặt ra: các tập đoàn lớn được quản lý theo phương thức nào và phục vụ lợi ích của ai?
Trong cuốn sách Từ mục tiêu cao cả đến những người làm thuê (2007) của mình, tác giả đã miêu tả các trường quản trị kinh doanh bị cuộc Đại Khủng hoảng đánh gục như thế nào. Cuộc khủng hoảng đó là lời quở trách đối với hoạt động đào tạo của các trường quản trị kinh doanh, dẫn đến việc rà soát lại một cách triệt để về sứ mạng, phương pháp và ngay cả khái niệm quản trị với tư cách là một nghề nghiệp.
Ngày nay, tự soi xét chính mình không nhất thiết là các trường quản trị kinh doanh phải quay ngược chiều kim đồng hồ để trở về Kỷ nguyên Tiến bộ hoặc thời kỳ đầu thực hiện Chính sách Xã hội mới (New Deal) mà có nghĩa là cần phải xem xét lại các vấn đề căn bản về mục đích. Các trường quản trị kinh doanh đào tạo ra những mẫu lãnh đạo nào, không chỉ trong các tài liệu tiếp thị hào nhoáng hay các bức thư gây quỹ, mà sâu xa nhất là ở cấp độ cấu trúc? Các trường kinh doanh phải làm gì để tạo ra những công dân có trách nhiệm trong chế độ dân chủ?
Câu trả lời là không chỉ là bổ sung khóa học về đạo đức vào chương trình giảng dạy như là biện pháp đảm bảo mà còn phải bao gồm nhiều vấn đề khác nữa. Tác giả đưa ra đề xuất như sau:
Phải công nhận giáo dục thường xuyên là một phần của mọi chương trình đào tạo MBA. Bác sỹ, luật sư và giáo viên cần phải được liên tục đào tạo chuyên môn. Tại sao MBA lại không? Ban giám đốc và các nhà quản lý chắc chắn phải nắm vững tính phức tạp của các giao dịch tài chính mà họ quản lý, các dấu hiệu và động thái của bong bóng kinh tế.
Phải có quy định về văn bằng, chứng chỉ. Một bằng MBA ngày nay hầu như chẳng có ý nghĩa gì. Giờ là thời điểm trao đổi nghiêm túc về kiến thức mà học viên tốt nghiệp MBA cần phải nắm vững. Giờ cũng là lúc để xây dựng một cơ chế tinh lọc trong đó các học viên MBA nhất trí tuân thủ cam kết thực hiện các nguyên tắc. Chúng ta cần một hệ thống quản lý có thể chứng nhận và rút lại chứng nhận rằng họ vẫn tuân thủ các nguyên tắc ấy. Nếu một luật sư có thể bị khai trừ khỏi đoàn luật sư vì những hành vi sai trái và một cơ sở y tế bị thu hồi giấy phép kinh doanh dựa trên những bằng chứng về sự lạm dụng, tại sao điều này không được áp dụng với bằng MBA?
Tạo ra một mẫu lãnh đạo kiểu mới để hình thành yếu tố cốt lõi trong chương trình đào tạo MBA, không đưa mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông vào vị trí trọng tâm. Các trường quản trị kinh doanh phải dám đối mặt với mọi kỳ vọng và giả định về chế độ đãi ngộ mà học viên nhận được trong môi trường làm việc. Ví dụ, niềm tin vào một thị trường dành cho các nhà quản trị cấp cao hoặc duy trì các khoản "tiền thưởng" như chúng ta đã thấy tại AIG phải được thể hiện bằng văn bản hợp đồng nhằm tránh chuyện lập lờ. Các trường cũng nên xem xét lại hoạt động kiện toàn tổ chức một cách khô cứng của mạng lưới học viên. Tốt hơn là nên mở rộng các mạng lưới xã hội để hội tụ được nhiều kinh nghiệm và cơ hội lãnh đạo tiềm tàng.
Bản thân xã hội cũng có những kỳ vọng rõ ràng đối với các trường quản trị kinh doanh. Nếu để họ tự xoay sở, họ sẽ muốn cạnh tranh với các tập đoàn khổng lồ hơn, thỏa mãn những người chỉ trích bằng những nhận định qua loa chứ không phải thông qua công tác kiểm tra các cơ chế điều hành cốt lõi của mình. Đến nay, có quá ít các thảo luận thẳng thắn về những đặc trưng của mô hình đào tạo quản trị kinh doanh trong tâm thức của học viên.
Chúng ta cần nêu lại câu hỏi tại sao học viên muốn theo nghề quản trị kinh doanh. Có phải chỉ đơn giản là để làm giàu? Đó không phải là một động lực chính và có thể chấp nhận được để theo học chương trình quản trị kinh doanh. Tuy nhiên, chúng ta - những nhà giáo dục phải công nhận rằng nhiều lý thuyết của mình đã làm "tan giấc mộng vàng" của học viên chúng ta về khả năng kinh doanh và ý nghĩa của việc gây dựng và duy trì các tổ chức.
Không tính đến nguyên nhân do khủng hoảng kinh tế, dù vị trí của các trường quản trị kinh doanh ngày nay đang ở "chiếu trên" trong "tháp ngà", nhưng họ cũng hiểu rằng cần phải chấm dứt lối tư duy "rồi đâu sẽ lại vào đấy cả thôi". Đối với đội ngũ giảng dạy, những đổi mới công nghệ như cho phép truy cập công khai các ấn phẩm học thuật đã cho thấy nhịp vận động ảm đạm của các tạp chí phê bình, của khối lượng kiến thức nghiên cứu cần phải được triệt để tăng tốc bằng cách kết hợp giữa sử dụng những gì hiện có và thuê mới.
Đặc điểm của học viên cũng đã bắt đầu thay đổi. Vì chúng ta đang sống trong một môi trường bất ổn nên các học viên MBA hiện nay, hơn lúc nào hết, vừa mong muốn được cống hiến cho xã hội lại vừa thỏa mãn được những mong muốn cá nhân. Ngày nay, các "cá thể tự do" của xã hội dường như không còn được ngưỡng mộ như trước.
Lịch sử hơn 125 năm của các trường quản trị kinh doanh đã chứng kiến bao thăng trầm của thời gian. Mong muốn chung của chúng ta là các nhà sử học tương lai sẽ không gọi đây là thời điểm kết thúc một kỷ nguyên mà sẽ gọi đây là sự khởi đầu, mở ra thời kỳ mà các nhà lãnh đạo thế hệ mới biết nắm lấy cơ hội góp sức giải quyết các vấn đề hệ trọng chứ không phải nguyên nhân gây ra chúng.
[1] Xem Fabrizio Ferraro, Jeffrey Pfeffer và Robert Sutton, "Economics Language and Assumptions:
How Theories Can Become Self-Fulfilling", Tạp chí Academy of Management Review (số tháng Một-2005).
[2] Shiller, "How Wall Street Learns to Look the Other Way", báo New York Times, số ra ngày 8-2-2005.
[3] Xem Jensen and William H. Meckling, "Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure", Tạp chí Journal of Financial Economics (số tháng Mười-1976); Eugene F. Fama and
Jensen, "Separation of Ownership and Control", Tạp chí Journal of Law and Economics (Số tháng Sáu-1983), và Jensen, Foundations of Organizational Strategy (Nxb Harvard University Press, 1998). Số lượt đọc:
1185
-
Cập nhật lần cuối:
29/04/2010 04:39:33 PM |